Kết quả quan trắc môi trường nước mặt tại khu vực miền Nam đợt 2 năm 2020
04/07/2020 08:06:00
Ngày 03/7, Tổng cục Môi trường đã có báo cáo về chất lượng môi trường nước mặt đợt hai năm 2020 tại khu vực miền Nam.

Kết quả tính toán chỉ số chất lượng nước WQI trong đợt 2/2020 cho thấy chất lượng nước mặt đợt 2/2020 trên hệ thống sông khu vực miền Nam được cải thiện hơn so với đợt 1/2020 (62 % điểm có giá trị WQI đợt 2 tăng so với đợt 1). Tuy nhiên ô nhiễm vẫn tiếp tục diễn ra tại các điểm nóng về môi trường (Cầu Ông Buông - sông Sài Gòn; cảng Phú Định - sông Vàm Cỏ)
Đối với nước mặt lục địa: Chương trình quan trắc môi trường nước mặt tại khu vực miền Nam năm 2020 thực hiện tại 58 điểm quan trắc: trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai (sông Đồng Nai 17 điểm, sông Sài Gòn 18 điểm, sông Thị Vải 06 điểm, sông Vàm Cỏ 08 điểm) và sông Tiền (09 điểm). Thông số quan trắc gồm: 15 thông số cơ bản (pH, nhiệt độ, EC, TDS, DO, BOD5, COD, TSS, Amoni, Nitrit, Nitrat, Cd, Fe, Pb, CN") và 04 thông số lựa chọn (hóa chất BVTV, As, Hg, Clorua).
Thời gian quan trắc đợt 2/2020 vào tháng 5, trong vùng trong giai đoạn chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa. Nồng độ TSS trong nước mặt có xu hướng tăng nhẹ so với đợt 1/2020, tỷ lệ vượt chuẩn của thông số TSS là 19% (đợt 1/2020 tỷ lệ vượt chuẩn 17,2%). Giá trị BOD5 và COD có xu hướng tăng, tỷ lệ vượt chuẩn lần lượt là 15,5% và 27,6% (đợt 1/2020: tỷ lệ vượt chuẩn lần lượt là 13,8% và 19%). Nồng độ Fe trong nước mặt có xu hướng giảm so với đợt 1/2020, tỷ lệ vượt QCVN 08-MT:2015/BTNMT là 19% (đợt 1/2020 tỷ lệ vượt chuẩn 24,1%). Một số khu vực vẫn có mức độ ô nhiễm dinh dưỡng cao (tồn tại dưới dạng Amoni và Nitrit): tỷ lệ vượt chuẩn của thông số Amoni là 24,1% và Nitrit là 13,8% (có xu hướng giảm nhẹ so với đợt 1/2020: tỷ lệ vượt amoni 27,6%, và Nitrit 25,9%). Tỷ lệ điểm quan trắc có giá trị DO không đạt ngưỡng quy định của QCVN 08-MT:2015/BTNMT là 29,3% (đợt 1/2020: có 34,5% giá trị DO không đạt).
Kết quả tính toán chỉ số chất lượng nước WQI trong đợt 2 năm 2020 cho thấy: sông Thị Vải đợt này có chất lượng nước tốt nhất; tiếp đến là Tiền; sông Đồng Nai có chất lượng nước cũng tương đối tốt; sông Vàm Cỏ và sông Sài Gòn là các sông có nhiều điểm quan trắc có chất lượng nước xấu. Cụ thể:
Sông Thị Vải: chất lượng nước sông Thị Vải được cải thiện hơn so với đợt 1/2020, đợt 2/2020 có 100% giá trị WQI từ 91- 100 (nguồn nước sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt) (đợt 1/2020 có 83,3% giá trị WQI từ 76 - 90 và 16,7% giá trị WQI từ 51" 75).​

Hình 1: Giá trị WQI tại các điểm qua​n trắc trên sông Thị Vải

Sông Tiền: Kết quả tính toán WQI cho thấy giá trị WQI cũng được cải thiện so với đợt 1/2020. Chất lượng nước đợt 2/2020 có 66,7% giá trị WQI từ 91 - 100 (nguồn nước sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt) (đợt 1/2020 là 33,3%) và có 33,3% giá trị WQI từ 76 - 90 (guồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần biện pháp xử lý phù hợp) (đợt 1/2020 là 66,7%).​

Hình 2: Giá trị WQI tại các điểm quan trắc trên sông Tiền

Sông Đồng Nai: Chất lượng nước được cải thiện so với đợt 1/2020, có 70% giá trị WQI từ 91 - 100 (nguồn nước sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt) (đợt 1/2020 là 50%); 25% giá trị WQI từ 76-90 (nguồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần biện pháp xử lý phù hợp) (đợt 1/2020 là 45%) và 05% giá trị WQI từ 51-75 (Sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương) (tương tự đợt 1/2020).​

Hình 3: Giá trị WQI tại các điểm quan trắc trên sông Đồng Nai

Sông Vàm Cỏ: chất lượng nước tương đương đợt 1/2020, có 25% giá trị WQI từ 76 - 90 (nguồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần biện pháp xử ý phù hợp), 62,5% giá trị WQI từ 51-75 (Sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương) và 12,5% giá trị WQI từ 26-50 (Sử dụng cho giao thông thuỷ và các mục đích tương đương).​

Hình 4: Giá trị WQI tại các điểm quan trắc trên sông Vàm Cỏ

Chất lượng nước tại khu vực cảng Phú Định (sông Chợ Đệm) (WQI=39) tương đương đợt 1/2020 (WQI=39). Giá trị DO khá thấp (0,31 mg/L) và không đạt quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1. Nước sông có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ (BOD5 vượt 1,4 lần và COD vượt 1,3 lần so với QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1 (đợt 1/2020 vượt lần lượt 1,5 lần và 1,4 lần QCVN)) và dinh dưỡng - đặc trưng bởi thông số N-NH4+ (giá trị N-NH4+ vượt 4,6 lần so với QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1 và có xu hướng giảm so với đợt 1/2020 vượt 9,0 lần).

Hình 5: Giá trị N-NH4+ tại các điểm quan trắc trên sông Vàm Cỏ

Sông Sài Gòn: chất lượng nước sông Sài Gòn đợt 2/2020 suy giảm so với đợt 1/2020, có 20% giá trị WQI từ 76 - 100 (nguồn nước sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt và nguồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần biện pháp xử lý phù hợp) (đợt 1/2020 là 27,7%), có 60% giá trị WQI từ 51-75 (Sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương) (đợt 1/2020 là 46,7%), 13,3% giá trị WQI từ 26 - 50 (Sử dụng cho giao thông và các mục đích tương đương) (đợt 1/2020 là 26,7%) và 6,7% giá trị WQI từ 10-25 (Nước ô nhiễm nặng, cần các biện pháp xử lý trong tương lai) (đợt 1 là 0%).​

Hình 6: Giá trị WQI tại các điểm quan trắc trên sông Sài Gòn

Các điểm có giá trị WQI thấp trên sông Sài Gòn là những điểm đang có dấu hiệu ô nhiễm dinh dưỡng (đặc trưng bởi thông số N-NH4+, N-NO2-) và ô nhiễm hữu cơ (đặc trưng bởi thông số BOD5 và COD):
Mức độ ô nhiễm dinh dưỡng (tồn tại dưới dạng N-NH4+) cao nhất trên sông Sài Gòn là khu vực hạ lưu (Cầu Ông Buông), giá trị N-NH4+ vượt quy chuẩn QCVN 08- MT:2015/BTNMT cột B1 26,1 lần (có xu hướng giảm nhẹ so với đợt 1/2020: vượt 27,7 lần).

Hình 7: Giá trị N-NH4 + tại các điểm quan trắc trên sông Sài Gòn

Vị trí cầu Ông Buông (kênh Tân Hóa - Lò Gốm thuộc nội ô Tp. Hồ Chí Minh) có mức độ ô nhiễm hữu cơ cao nhất và giá trị BOD5, COD vượt QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1 tương ứng 3,0 lần và 3,1 lần; giá trị quan trắc đợt này có xu hướng giảm so với đợt 1/2020 (giá trị BOD5 và COD vượt lần lượt là 5,2 lần và 4,6 lần). Thời điểm quan trắc ghi nhận nước triều xuống, nước cạn, màu đen, có mùi hôi và nhiều cặn lơ lửng, giá trị DO đo được rất thấp (0,18 mg/L). Đây là vị trí thuộc nội ô thành phố Hồ Chí Minh, chịu tác động bởi lượng lớn nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư đông đúc và các cơ sở sản xuất phân tán nằm dọc lưu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm.​

Hình 8: Giá trị BOD5 tại các điểm quan trắc trên sông Sài Gòn

Hình 9. Giá trị COD tại các điểm quan trắc trên s​ông Sài Gòn

Ngoài ra, vị trí Cầu Ông Buông có giá trị Pb (0,138 mg/L) trong nước mặt tăng đột biến vượt QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1 2,8 lần (đợt 1 đạt quy chuẩn). Giá trị Pb trong trầm tích nước mặt tại khu vực này đợt 2/2020 (74,79 mg/kg) tuy đạt QCVN 43:2012/BTNMT nhưng có xu hướng tăng so với cùng kỳ đợt 2/2019 (17,75 mg/kg).
Qua kết quả quan trắc môi trường khu vực phía Nam đợt 2 năm 2020 cho thấy: Nước mặt khu vực Cầu Ông Buông trên sông Sài Gòn - có chất lượng nước nằm ở mức Kém (giá trị WQI = 14; nước ô nhiễm nặng, cần có biện pháp xử lý trong tương lai), đặc biệt giá trị Pb trong nước mặt tại vị trí này vượt QCVN 2,8 lần do đó cần giám sát chặt chẽ để có biện pháp xử lý trong tương lai. Chất lượng nước mặt trong đợt 2 năm 2020 trên các hệ thống sông khu vực miền Nam được cải thiện hơn so với đợt 1 năm 2020 ở từng phân đoạn sông, nhưng ô nhiễm vẫn tiếp tục diễn ra tại các điểm nóng về môi trường (Cầu Ông Buông - sông Sài Gòn; cảng Phú Định - sông Vàm Cỏ).

Nguồn: VEA

Hình ảnh

Liên kết